Nhân sự thực hiện: Nhân viên y tế;
Phương tiện cần thiết: Cột đo lưu lượng, dây dẫn oxy, máy đo SpO2, mặt nạ phù hợp với lứa tuổi và nhu cầu oxy của bệnh nhân (mặt nạ đơn giản, mặt nạ có bóng dự trữ – không có van 1 chiều, mặt nạ có bóng dự trữ – van 1 chiều); Bệnh nhân: Được thông báo về thủ thuật sắp thực hiện, đặt nằm trên giường cấp cứu cạnh nguồn oxy, làm thông thoáng đường thở trên, được kiểm tra các dấu hiệu lâm sàng (nhịp thở, đo SpO2, mạch, dấu hiệu gắng sức, đánh giá tinh thần, tình trạng da niêm mạc,…);
Hồ sơ bệnh án: Ghi đầy đủ thông tin cá nhân và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước khi thở oxy.
Rửa tay, đi găng tay;
Lắp cột đo lưu lượng vào nguồn cấp oxy;
Lắp bình làm ẩm vào cột lưu lượng;
Lắp dây dẫn oxy vào đầu ra cột lưu lượng hoặc bình làm ẩm;
Lắp mặt nạ vào dây dẫn;
Điều chỉnh lưu lượng oxy thở qua mặt nạ phù hợp với từng trường hợp khác nhau theo đúng chỉ định;
Kiểm tra oxy các mối nối, đảm bảo không bị hở;
Đưa mặt nạ kín mũi và miệng bệnh nhân;
Cố định mặt nạ ôm kín mũi, miệng bệnh nhân nhưng không gây khó chịu.
Trong 30 phút đầu thở oxy qua mặt nạ, cần theo dõi bệnh nhân liên tục bằng máy đo SpO2 và nhịp tim, đánh giá nhịp thở, mức độ gắng sức, màu da và tinh thần nhằm điều chỉnh lượng oxy phù hợp;
Quan sát da mặt bệnh nhân ở vùng đặt mặt nạ xem có bị kích thích, dị ứng với chất liệu của mặt nạ hay không;
Sau 1 – 2 giờ thở oxy, nên tháo mặt nạ ra, lau khô hơi nước trên mặt nạ và lau mặt cho bệnh nhân;
Khi bệnh nhân thở oxy ổn định, theo dõi mỗi 3 giờ một lần về các vấn đề như mối nối dẫn oxy có bị rò không, tình trạng đáp ứng của người bệnh, chỉ số SpO2;
Điều chỉnh lưu lượng oxy, đảm bảo chỉ số SpO2 trong giới hạn cho phép;
Thay mặt nạ, dây dẫn và bình làm ẩm hằng ngày.
Chú ý theo dõi bệnh nhân trong quá trình thở oxy qua mặt nạ
Lo âu, hốt hoảng, bồn chồn;
Vật vã, kích thích;
Ý thức lơ mơ, lộn xộn;
Giảm thị lực;
Giảm trương lực cơ và sự phối hợp của các nhóm cơ;
Ở giai đoạn đầu suy hô hấp,huyết áp, mạch, tần số hô hấp và tần số tim tăng lên;
Ở giai đoạn sau suy hô hấp, bệnh nhân bị tím tái, thở dốc, co kéo các cơn hô hấp, mạch và huyết áp giảm;
Khi xét nghiệm phân tích khí máu động mạch thấy độ bão hòa oxy (SpO2) và áp lực oxy (PaO2) giảm.
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.